Nhát búa “10 nghìn đô la” và giá của chất xám!

0
Nghiên cứu khoa học (NCKH) và chuyển giao công nghệ (CGCN) trong các trường đại học được coi là nền tảng hết sức quan trọng quyết định chất lượng đào tạo và vị thế của trường.

Báo GD&TĐ đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Ngọc Long – Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải để thấy được giá trị của chất xám.

a1-14-15-(1)

Sinh viên thực hành nghiên cứu khoa học trong Phòng thí nghiệm (Trường Đại học Giao thông Vận tải).

Ý nghĩa quan trọng

- Là hiệu trưởng một trường đại học có bề dày trong các hoạt động NCKH và CGCN, xin ông cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?

- NCKH và CGCN là một trong ba nhiệm vụ chính của đại học hiện đại. NCKH là nhiệm vụ chính của các giảng viên ở bậc đại học bên cạnh nhiệm vụ đào tạo. NCKH chính là môi trường để rèn luyện, nâng cao khả năng, kiến thức và kinh nghiệm cho giảng viên. Đối với người học, việc tham gia các hoạt động NCKH là cách thức tốt nhất để xây dựng nền tảng tư duy mạch lạc, từ đó hình thành kĩ năng đặt vấn đề, giải quyết vấn đề một cách bài bản, hiệu quả, có logic.

Đối với xã hội, NCKH và CGCN từ các trường đại học hiện đã được xem là một trong những động lực chính của kinh tế tri thức, là sản phẩm chính yếu trong nhiệm vụ phục vụ cộng đồng. Trong các đại học hiện đại, NCKH và CGCN được dự kiến là một trong những nguồn tài chính chiếm tỉ trọng lớn nhất. Do đó, hiện nay có thể hiểu NCKH và CGCN vừa là nhu cầu tự sinh, vừa là động lực chính để phát triển đại học.

 PGS.TS Nguyễn Ngọc Long – Hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông Vận tải.

- Thực tế hoạt động NCKH và CGCN trong các trường đại học đang nói lên điều gì?

- Trước hết, chúng ta cùng xem xét một số dữ liệu thống kê để có những suy ngẫm. Báo cáo kết quả khảo sát hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) tại 142 cơ sở GDĐH giai đoạn 2011 - 2016 của một nhóm nghiên cứu độc lập cho thấy: Khu vực các trường đại học đóng góp 1/2 nhân lực và 2/3 tổng số sản phẩm KHCN của cả nước. Giai đoạn 2016 - 2020, thống kê chưa đầy đủ cho biết khoảng 3/4 tổng số sản phẩm KHCN của cả nước đến từ các cơ sở GDĐH.

Số lượng các hợp đồng chuyển giao KHCN và nguồn thu từ KHCN phát triển gần gấp đối trong giai đoạn tiếp sau từ 2016 đến 2020. 90% số công bố quốc tế trong giai đoạn gần đây đến từ các trường đại học. Các sản phẩm KHCN từ các trường đại học đã trở thành những sản phẩm hoàn chỉnh, có thể chuyển giao trực tiếp đến xã hội. Những con số biết nói đó cho phép nhận diện rõ ràng tiềm năng rất lớn của đội ngũ các nhà khoa học thuộc các trường đại học.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhận thấy vấn đề chung tại các cơ sở giáo dục đào tạo là đóng góp của nguồn thu từ hoạt động KHCN trong tổng nguồn thu còn nhỏ. Tại phần lớn các trường, nguồn thu từ KHCN còn cách rất xa con số 25% tổng nguồn thu của nhà trường theo quy định cho các trường đại học nghiên cứu. Điều này cho thấy, nhiệm vụ phát triển KHCN một cách thực chất, hiệu quả đối với các trường đại học còn rất khó khăn.

Hyundai TC motor thỏa thuận hợp tác và trao tặng thiết bị hỗ trợ học tập cho Trường ĐH Giao thông Vận tải.

Giá trị của chất xám

- Người ta hay nói giá trị của chất xám khi đề cập đến NCKH, quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

- Một câu chuyện thường được trích dẫn về sức mạnh của tri thức thời đại công nghiệp: Một chủ tàu khi cần sửa chữa con tàu của mình đã mời rất nhiều thợ giỏi nhưng con tàu vẫn không chịu nhúc nhích. Có một chuyên gia đến, sau khi kiểm tra mọi thứ, ông ta rút ra một cái búa nhỏ, cẩn thận gõ nhẹ vào một cái gì đó. Ngay lập tức, động cơ hoạt động trở lại. Một tuần sau, chủ tàu nhận được hóa đơn thanh toán giá 10 nghìn đô la! Chủ tàu thốt lên: “Ông ta hầu như chẳng phải làm gì cả! 10 nghìn đô la cho mấy nhát búa đó à? Chủ tàu nhận được hóa đơn ghi: “Tiền công gõ búa: 2 đô la. Phân tích, tìm ra nơi cần gõ: 9.998 đô la”.

Câu chuyện trên có những màu sắc ngụ ngôn, nhưng cũng đã chỉ ra vai trò của tri thức đối với mỗi cá nhân trong thời đại ngày nay. Thời đại mà ở đó trí thức đã thực sự trở thành nguồn tài nguyên lớn nhất, trực tiếp và quan trọng nhất.

- Vậy Trường Đại học Giao thông Vận tải đã hiện thực hóa hoạt động NCKH và CGCN như thế nào để đáp ứng yêu cầu xã hội?

- Tại Trường Đại học Giao thông Vận tải, chúng tôi xây dựng mô hình đại học nghiên cứu trong đó các giảng viên, giáo sư của nhà trường cũng chính là những đầu tàu trong NCKH và CGCN ngành giao thông vận tải và các ngành kỹ thuật khác. Đồng thời, kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng phục vụ đời sống. Từ năm 2018 đến 2020, trường luôn nằm trong top 20 các cơ sở GDĐH có số lượng, công bố quốc tế nhiều nhất cả nước. Nhà trường cũng đóng góp lớn trong việc cung cấp các giải pháp CGCN cho xã hội.

Năm 2020, trường là đơn vị tư vấn giải pháp và trực tiếp cử các chuyên gia tổ chức thiết kế, thi công và giám sát việc sửa chữa mặt cầu Thăng Long – Hà Nội. Các chuyên gia của nhà trường cũng là những chuyên gia nòng cốt góp phần định hình, xây dựng và đánh giá những dự án giao thông trọng điểm, phức tạp và có yếu tố khoa học kĩ thuật phức tạp của đất nước như việc xây dựng các quy hoạch chuyên ngành cho ngành giao thông vận tải, các dự án cao tốc Bắc - Nam giai đoạn II và dự án phát triển đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam.

- Xin ông cho biết một số mục tiêu cụ thể của Trường Đại học Giao thông Vận tải trong hoạt động NCKH và CGCN?

- Trường Đại học Giao thông Vận tải sẽ tiếp tục kiên định mục tiêu trở thành trường ĐH trọng điểm của đất nước; đạt được các tiêu chí cơ bản của một trường đại học nghiên cứu theo các chuẩn quốc tế; có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước và trong khu vực. Chúng tôi xác định, lựa chọn và tập trung đầu tư vào một số định hướng NCKH chính, có thế mạnh để phấn đấu đến năm 2025 xây dựng được ít nhất ba nhóm NCKH đạt tầm khu vực, có khả năng giải quyết các vấn đề khoa học kĩ thuật phức tạp, có tính liên ngành.

Xây dựng Quỹ hỗ trợ NCKH để làm công tác “gieo mầm” các hạt nhân KHCN cho nhà trường; nghiên cứu cơ chế cho phép phát triển từ các nhóm NCKH có triển vọng lên thành các trung tâm KHCN có khả năng độc lập, chủ động thực hiện các dịch vụ KHCN; đem lại lợi ích cho nhà trường. Cùng với đó là việc phối hợp nghiên cứu với các viện, các công ty, tổ chức kinh tế – xã hội để tạo ra một số sản phẩm KHCN có chất lượng đột phá, tạo thương hiệu cho nhà trường; Tranh thủ các nguồn kinh phí từ vốn đầu tư nước ngoài, kinh phí của Nhà nước, các nguồn xã hội hóa và trích một phần kinh phí xứng đáng hơn trong doanh thu của nhà trường để đầu tư cho hoạt động KHCN.

- Từ thực tế NCKH và CGCN, ông có gửi gắm gì để GDĐH tạo ra nhiều “chất xám” hơn nữa?

- Tôi nghĩ đến hai yếu tố quan trọng. Thứ nhất là phải có được một chiến lược phát triển KHCN bài bản, khoa học và thứ hai là cần sự chung tay của các đơn vị quản lý Nhà nước, của xã hội với các cơ sở nghiên cứu để tạo ra một thị trường KHCN sôi động và hiệu quả.

Ở Trường Đại học Giao thông Vận tải chúng tôi đã từng bước thực hiện những chiến lược như sau: Thứ nhất là tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất phục vụ NCKH và CGCN, xây dựng hệ thống thư viện, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại. Hiện nay, phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc Trung tâm KHCN của trường là một trong những đơn vị tin cậy của cả nước về việc thực hiện các phép thử, phép thí nghiệm khó phục vụ nghiên cứu và CGCN.

Thứ hai là có cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu. Xây dựng cơ chế khen thưởng xứng đáng, động viên kịp thời các thầy cô giáo và các em sinh viên tích cực tham gia hoạt động KHCN. Xây dựng các trung tâm KHCN, các nhóm nghiên cứu mạnh làm đầu tàu dẫn dắt hoạt động   KHCN đi sâu và đúng hướng, có trọng tâm, trọng điểm chứ không dàn trải trong điều kiện đầu tư cho KHCN còn hạn chế.

Bên cạnh đó, nhà trường chú trọng xây dựng mối quan hệ bền chặt với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế để phối hợp cùng giải quyết các vấn đề KHCN mà nhà trường có năng lực và xã hội có nhu cầu. Cố gắng tìm đầu ra cho sản phẩm KHCN, tạo ra thị trường KHCN đúng nghĩa và hiệu quả cho các nhà khoa học. Đây cũng là điểm đột phá mà theo tôi là quan trọng nhất để giải được bài toán phát triển KHCN nói chung và phát triển KHCN trong các trường đại học nói riêng.

- Xin cảm ơn ông!

Chúng ta vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa NCKH của các trường đại học và khả năng áp dụng một cách hiệu quả các nghiên cứu này để tạo ra của cải, vật chất cho xã hội. Chừng nào nguồn thu từ KHCN của các trường vẫn chưa đủ lớn để hỗ trợ quá trình tái đầu tư cho sự phát triển của chính nó, mà vẫn phải viện đến các nguồn tài chính khác thì hiệu quả của hoạt động NCKH và CGCN trong các nhà trường chưa thể hoàn toàn thực chất và hiệu quả như mong muốn. Các trường đại học rất cần sự hỗ trợ, đồng hành từ Bộ KH&CN, Bộ GD&ĐT và đặc biệt là từ xã hội. - PGS.TS Nguyễn Ngọc Long

Link:https://giaoducthoidai.vn/trao-doi/nhat-bua-10-nghin-do-la-va-gia-cua-chat-xam-LpVnsLp7R.html

 

Bạch Ngọc Dư - Giáo dục & Thời đại

Loading...

Bình luận

Ra mắt phim “Xuân ồn ào - Xuân ngọt ngào”

Ngày 23/1/2022, buổi họp báo ra mắt bộ phim “Xuân ồn ào - Xuân ngọt ngào” đã được diễn ra tại nhà hàng Nguyên Lợn (Hà Nội).

Liên Bỉnh Phát: “Kinh nghiệm tình trường của tôi rất ít”

Trong tập 7 Trà chiều cùng “mợ chảnh” Lý Nhã Kỳ, Liên Bỉnh Phát có dịp trải lòng về chuyện tình trường.

Ứng xử thế nào với sự trở lại của nghệ sĩ?

Chuyện nghệ sĩ vướng scandal rồi nhanh chóng quay lại với làng giải trí đã không còn xa lạ với công chúng...

Nhan sắc thăng hạng sau 7 năm đăng quang của Á hậu Huyền My

Sau 7 năm đăng quang Á hậu 1 Hoa hậu Việt Nam 2014, nhan sắc Huyền My nhận được nhiều lời khen từ khán giả.

Xem thêm