Hà Nội: UBND quận Bắc Từ Liêm cần sớm giải quyết những thắc mắc của người dân

0
UBND quận Bắc Từ Liêm cần xác định rõ nguồn gốc, quỹ đất công ích thuộc dự án đường Ao dài tại phường Đức Thắng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân.

Như Báo Pháp luật Việt Nam đã thông tin trong bài viết “Hà Nội: Quận Bắc Từ Liêm cần làm rõ quỹ đất công ích tại phường Đức Thắng”.

Mới đây, ngày 16/9/2020, UBND quận Bắc Từ Liêm đã tổ chức hội nghị đối thoại trực tiếp với những người có đơn khiếu nại tại dự án Xây dựng tuyến đường Ao Dài, phường Đức Thắng (đoạn từ đường Hoàng Tăng Bí đến xóm 6) quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.

Chủ trì buổi đối thoại là ông Nguyễn Kim Vinh-Phó Chủ tịch UBND quận Bắc Từ Liêm.

Bên cạnh đó còn có sự tham gia của ông Nguyễn Văn Công-Phó Trưởng phòng TN&MT; ông Cấn Văn Duẩn-Chủ tịch UBND phường Đức Thắng; ông Chu Việt Dũng-Phó Chánh Văn phòng HĐND-UBND quận; ông Lê Anh Tuấn-Phó Chánh thanh tra quận; ông Phạm Ngọc Anh-PGĐ Ban QLDU-ĐTXD quận.

1'

Biên bản làm việc buổi đối thoại.

Không đồng tình với kết quả buổi đối thoại

Tại buổi làm việc, bà Điền Thị Hạnh không đồng tình với việc xác định nguồn gốc đất căn cứ tờ bản đồ năm 1999-2020.

Theo bà Hạnh, với thời gian ăn ở, đóng thuế liên tục, không vi phạm pháp luật thì yêu cầu UBND xem xét phê duyệt lại phương án đền bù vì tại thời điểm mua nhà đất đã có nhà và đã được đóng thuế nhà đất từ năm 2001 đến năm 2010.

Bà Hạnh cũng yêu cầu làm rõ tại sao khi thu hồi đất dùng bản đồ năm 1994 nhưng đến buổi làm việc hôm nay lại công khai sử dụng bản đồ năm 1999?.

Cũng trong buổi đối thoại, bà Dương Thúy Hoàn nêu ý kiến. Trong Quyết định số 925/QĐ-UBND ngày 04/03/2019 có áp dụng căn cứ tờ bản đồ năm 1994, yêu cầu cung cấp tờ bản đồ 1994 và sổ mục kê năm 1994 để đối chiếu, làm rõ hơn việc xác minh của Phòng Tài nguyên và môi trường.

Ông Đỗ Duy Đông thắc mắc, việc UBND phường Đức Thắng có Báo cáo số 24/BC-UBND ngày 10/1/2019 về việc thuyết phục các hộ gia đình cá nhân nhận tiền và bàn giao mặt bằng nhưng các hộ đóng cửa, không có mặt tại vị trí công trình là không chính xác.

Bên cạnh đó cần xác định rõ giấy tờ và hệ số chuyển đổi của xã Đông Ngạc và Chi cục thuế huyện Từ Liêm.

Trả lời những thắc mắc của người dân, ông Nguyễn Văn Công-Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường quận Bắc Từ Liêm cho biết.

Về thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước năm 2003 và trước năm 2013, đối chiếu theo quy định của pháp luật theo Luật đất đai năm 1993 và 2003 thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các hộ là trái quy định.

Về vấn đề hộ khẩu, ông Cấn Văn Duẩn-Chủ tịch UBND phường Đức Thắng nêu ý kiến.

Theo Luật cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cư trú, điều kiện để được nhập khẩu là phải có nơi cư trú hợp pháp, có đăng ký tạm trú và trực tiếp cư trú tại nơi xin nhập khẩu.

Qua xác minh của cơ quan công an và hồ sơ gốc về nhập khẩu của các hộ thể hiện các hộ đều nhập khẩu vào các hộ gia đình khác.

20200920_113316

Các hộ dân cho rằng sổ hộ khẩu được trên chính mảnh đất họ đang sinh sống.

Trao đổi với PV báo Pháp luật Việt Nam, chị Điền Thị Hạnh cho hay: “ UBND quận đã tiến hành đối thoại với nhân dân, tuy nhiên trong cuộc đối thoại, chính quyền vẫn chưa trả lời được hết thắc mắc của nhân dân về nguồn gốc đất mà chúng tôi đang sinh sống.

Chúng tôi luôn đồng tình với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và phát triển hạ tầng địa phương, tuy nhiên chính quyền các cấp cần xác định rõ nguồn gốc đất nhắm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các hộ dân".

“Gia đình tôi mua căn nhà này từ đầu những năm 2000. Thực tế đất khi mà tôi mua đã được đóng thuế nhà đất từ năm 2001. Làm ăn sinh sống ổn định ở đây, tuy nhiên chính quyền chưa bao giờ thông báo rằng khu đất chúng tôi đang ở là đất công ích”, chị Hạnh cho biết thêm.

11

Biên lai thu thuế nhà đất của một hộ dân.

Tiếp lời chị Hạnh, chị Nguyễn Thị Thúy Hà nhấn mạnh: “ Tôi không đồng tình với ý kiến của ông Cấn Văn Duẩn-Chủ tịch phường Đức Thắng khi cho rằng chúng tôi nhập khẩu nhờ vào hộ dân khác.

Chúng tôi được cấp sổ hộ khẩu trên chính mảnh đất chúng tôi đang sinh sống. Còn hộ mà ông Duẩn nói chúng tôi nhập nhờ vào đến chúng tôi cũng không biết đấy là ai”.

Cần làm rõ nguồn gốc đất từ đâu?

Liên quan đến vấn đề này, trả lời trên báo chí, Giáo sư Đặng Hùng Võ-Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên môi trường cho biết.

"Chuyện được cấp số nhà đó là một câu chuyện rất quan trọng. Bởi vì được cấp số nhà chứng tỏ đây là đất được quy hoạch, xác nhận đây là đất được chính thức sử dụng.

Câu chuyện còn lại đó là được bồi thường về đất như thế nào?. Chúng ta phải trở lại câu chuyện nguồn gốc đất từ đâu?. Có thể nguồn gốc đất công ích của xã, xã sử dụng đất công ích đó để chia cho những người đang thiếu nhà ở để làm nhà ở hay là như thế nào?.

Chúng ta khẳng định đây không phải là đất lấn chiếm. Vì đã được cấp số nhà thì có nghĩa là được thừa nhận rằng không phải lấn chiếm".

Nếu sử dụng đất từ trước ngày 15/10/1993 thì tôi tin rằng trường hợp này được bồi thường về đất hoàn toàn, đầy đủ.

Nếu trường hợp sử dụng đất trong khoảng từ 15/10/1993 đến 1/7/2004 thì lúc đó có thể được bồi thường một nửa". Giáo sư Hùng cho hay.

Theo khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai 2013, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 mà không có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất nếu có đủ điều kiện sau:

- Có hộ khẩu thường trú tại địa phương.

- Trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.

Trường hợp 2: Có thể phải thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu chưa thực hiện (tùy vào từng trường hợp mà hộ gia đình, cá nhân có thể phải nộp tiền nếu chưa nộp)

Theo khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai 2013, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ được cấp giấy chứng nhận nếu có đủ điều kiện sau:

- Đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004.

- Không vi phạm pháp luật về đất đai.

- Nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch.

Trường hợp 3: Điều kiện cấp giấy chứng nhận khi sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014

Căn cứ khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, người sử dụng đất lấn, chiếm được cấp giấy chứng nhận khi có đủ điều kiện sau:

- Đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

- Đất không có tranh chấp.

Theo các hộ gia đình thì việc sử dụng đất ổn định, liên tục vào một mục đích nhất định được thể hiện ở hóa đơn đóng thuế nhà đất hơn 10 năm.

Trước đó, báo Pháp luật Việt Nam nhận được đơn kêu cứu khẩn cấp của các hộ dân thuộc tổ dân phố số 3, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội phản ánh về việc chính quyền không xác định đúng loại đất dẫn đến việc khi thu hồi đất làm dự án đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân.

16-1406

Đơn kêu cứu khẩn cấp của các hộ dân thuộc tổ dân phố số 3, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.

Cụ thể, trong đơn thư nêu rõ “ vào đầu những năm 2000 chúng tôi đã mua nhà được xây trên đất, đa số đất đã được đóng thuế nhà đất từ những năm 2001 và chuyển về đây sinh sống ổn định đến bây giờ.

Khi chúng tôi xây dựng nhà công khai không một cơ quan nào có ý kiến. Và còn cấp số nhà cho chúng tôi, đăng kí hộ khẩu thường trú cho chúng tôi ngay trên chính mảnh đất nơi chúng tôi xây nhà.

Khi đang yên tâm sinh sống, làm việc và lao động thì tháng 9/2016 chúng tôi nhận được thông báo ngôi nhà mà chúng tôi đang sinh sống ổn định này nằm trong quy hoạch thuộc dự án xây dựng tuyến đường Ao dài.

Chưa hết bàng hoàng, ngày 10/3/2017, chúng tôi nhận được giấy mời của UBND phường thông báo về việc niêm yết công khai, lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư đối với từng hộ gia đình.

Trong phương án chỉ ra rằng, thửa đất mà chúng tôi sinh sống là đất công ích thuộc quản lý của UBND phường Đức Thắng và các hộ dân ở đây sẽ không được bồi thường về đất.

Cũng theo nội dung đơn thư, vì quá bức xúc các hộ dân đã làm đơn khiếu nại và được UBND quận Bắc Từ Liêm tổ chức họp đối thoại. Tuy  nhiên cho đến nay, đã gần 6 tháng kể từ ngày các hộ dân nhận được thông báo thụ lý đơn khiếu nại họ vẫn không được giải quyết đơn khiếu nại của mình.

Bên cạnh đó, tại các buổi làm việc, UBND quận Bắc Từ Liêm không chỉ ra được các tài liệu, căn cứ chứng minh thửa đất mà các hộ dân đang sinh sống ổn định trên đó là đất công ích thuộc quản lý của UBND phường Đức Thắng.

Các hộ dân ở đây chia sẻ, từ khi nhận được thông báo, cuộc sống của người dân nơi đây bị đảo lộn hoàn toàn. Lúc nào cũng sống trong cảnh thấp thỏm lo âu không còn tâm trí nào để lao động, chăm lo cuộc sống, phát triển kinh tế gia đình, xã hội.

Trong khi những khúc mắc của người dân chưa được giải quyết thỏa đáng nhưng không biết sẽ chịu cảnh “màn trời chiếu đất” lúc nào.

Liên quan đến vấn đề này PV Phapluatplus.vn đã có buổi làm việc với ông Cấn Văn Duẩn, phó Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch UBND phường Đức Thắng, quận Bắc Từ liêm, Hà Nội.

Tại buổi làm việc ông Duẩn cho hay UBND phường đã giải quyết những kiến nghị này của dân từ năm 2017.

Ngay sau khi nhận được những bức xúc của người dân UBND phường cũng đã nhiều lần tổ chức các buổi đối thoại với người dân.

Phía chính quyền cũng đã cho người dân xem tất cả các giấy tờ hồ sơ quản lý từ bên phường Đông Ngạc chuyển sang đến hồ sơ quản lý của phường, bản đồ từ năm 1999 đến bây giờ đều thể hiện là đất công ích.

Vấn đề này nếu các đồng chí (tức PV) muốn hiểu rõ thì các đồng chí xuống gặp các cán bộ làm tổ dân phố qua các thời kỳ, họ là người sinh sống tại địa phương và nắm rất rõ.

9

ông Cấn Văn Duẩn (áo trắng)- Chủ tịch UBND phường Đức Thắng, quận Bắc Từ liêm, Hà Nội trong buổi làm việc với PV báo Pháp luật Việt Nam

Về việc tại sao nhiều hộ gia đình đều được cấp số nhà, sổ hộ khẩu, điện, nước, ông Duẩn cho biết, nhà này không nằm trong quỹ số nhà của phường cấp mà do tổ dân phố người ta tự lắp đặt để dễ quản lý. 

Câu trả lời của người đứng đầu UND phường Đức Thắng là thế, nhưng khi phóng đặt câu hỏi việc tổ dân phố tự ý cấp số nhà như thế có đúng không và dựa theo quy định nào thì ông Duẩn không trả lời.

Về Sổ hộ khẩu được cấp thì một số hộ được chuyển hộ khẩu nhưng không phải chuyển vào vị trí đất ấy. Khi người ta chuyển khẩu đến đây họ có thể nhập khẩu vào gia đình anh chị em sau đó tách ra. Ông Duẩn trao đổi.

Tuy nhiên, theo người dân cho biết họ được cấp sổ hộ khẩu trên đúng mảnh đất họ đang sinh sống.

Về việc thu thuế nhà đất, ông Duẩn cho biết, ngày xưa không phải thu thuế đất phi nông nghiệp như bây giờ. Từ trước năm 2011 là tất cả bất kỳ ai sử dụng đất mà không phải là đất sản xuất thì đều thu tiền chứ không phải thu thuế đất ở.

PV đặt câu hỏi nếu là đất công ích thì tại sao lại thu tiền thuế của người dân?. Lúc này ông Duẩn cho hay, cái đấy thì phải xem lại tất cả giấy tờ của người dân có phải thu đúng đúng vị trí không hay họ (Tức người dân – PV) lại mang biên lai ở chỗ khác đến cho mình xem, cũng là tên người ấy nhưng nhà lại có đất ở chỗ khác. Cái đấy muốn biết chính xác thì phải đi điều tra, phường không có trách nhiệm phải đi xác minh mấy cái ấy.

Báo Pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin.

Theo Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Luật Đất đai 2013

Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 143 và Khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này;

c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.

3. Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.

Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó.

4. Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này được thực hiện theo quy định tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;

c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng như trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đất đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

6. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong các trường hợp quy định tại Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều này mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định.

Thượng Nguyễn

Loading...

Bình luận

Cổ phần hóa, thoái vốn vẫn chậm

Cổ phần hóa, thoái vốn vẫn chậm

0
Thống kê của Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính cho thấy, 9 tháng năm 2020, chỉ có 1 doanh nghiệp thuộc kế hoạch cổ phần hóa...
Kết quả bóng đá hôm nay 22/10

Kết quả bóng đá hôm nay 22/10

0
Cập nhật kết quả bóng đá hôm nay 22/10, kết quả các trận đấu trong nước và quốc tế đêm qua, rạng sáng nay.

Kết quả bóng đá hôm nay 22/10

Cập nhật kết quả bóng đá hôm nay 22/10, kết quả các trận đấu trong nước và quốc tế đêm qua, rạng sáng nay.

Những điểm nghỉ dưỡng lý tưởng để du ngoạn an toàn thời kỳ “bình thường mới”

Thời Covid-19, những điểm nghỉ dưỡng biệt lập, gần gũi thiên nhiên được xem như chốn “trú ngụ”an toàn, riêng tư và đầy thư giãn cho du khách.

V.League: Cúp vô địch sẽ ở lại thủ đô?

"bứt tốc" sau thắng lợi tối thiểu trên sân nhà, trong khi đội bóng áo lính Viettel tiếp tục giữ vững ngôi vị số 1 của mình với 3 điểm trọn vẹn.

Chùa Quán Sứ tổ chức chương trình giao lưu "Phật giáo đối với nữ Phật tử"

Ngày 20/10, Phật tử chùa Quán Sứ đã trọng thể tổ chức buổi giao lưu "Phật giáo đối với nữ Phật tử" nhân ngày Phụ nữ Việt Nam.

Xem thêm