Cần quy định rõ hành vi bị cấm của cơ quan, tổ chức trong quản lý thuế

Pháp luật Plus

(PL+) - Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 6, sáng nay (8/11), Quốc hội đã nghe Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

(Hình minh hoạ).
(Hình minh hoạ).

Hoàn thiện thể chế quản lý thuế 

Trình bày tờ trình của Chính phủ về dự án Luật tại phiên họp, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007, đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào các năm 2012, 2014 và năm 2016. 

Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, công tác quản lý thuế nói chung và quy định pháp luật về quản lý thuế nói riêng cũng có những hạn chế bất cập nhất định như việc thường xuyên bổ sung, sửa đổi văn bản luật đã ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế; một số văn bản pháp luật khác cũng có nội dung quy định về quản lý thuế, vì vậy chưa tạo ra sự thống nhất trong các văn bản quy định pháp luật. 

Phạm vi điều chỉnh của Luật quản lý thuế chưa bao quát hết các khoản thu khác trong Ngân sách Nhà nước, mặt khác hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đình hoặc khu vực kinh tế phi chính thức chưa được quy định đầy đủ... 

Qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật quản lý thuế và qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ thấy rằng việc sửa đổi Luật quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, nhằm hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế; tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập; tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan. 

Dự thảo Luật do Chính phủ trình gồm 17 chương, 152 điều, quy định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; nội dung, nguyên tắc quản lý thuế và các hành vi bị cấm; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan liên quan đến quản lý thuế; về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế; về các biện pháp xử lý nợ đọng thuế; xử lý vi phạm hành chính về quản lý thuế... 

Cụ thể hóa trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế 

Theo báo cáo thẩm tra dự án Luật do Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày tại phiên họp, hồ sơ trình dự án Luật đã đảm bảo yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thống nhất với tên gọi của Luật là Luật quản lý thuế (sửa đổi), vì phạm vi sửa đổi lần này khá rộng, bổ sung nhiều nội dung mới phức tạp, quan trọng. 

Tuy nhiên, để có cơ sở thẩm tra, đánh giá và để các đại biểu Quốc hội có căn cứ, xem xét cho ý kiến đối với từng nội dung, đề nghị Chính phủ cần thuyết minh rõ hơn về cơ sở, nguyên nhân và lý do cần bổ sung các quy định mới, bỏ những quy định không còn phù hợp trong Luật hiện hành. 

Về tính cụ thể của dự án Luật, Ủy ban Tài chính, ngân sách nhận thấy, so với Luật hiện hành thì dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể. Ví dụ, Luật hiện hành có 20 điều giao Chính phủ quy định chi tiết nhưng dự thảo lần này có tới 36/152 điều (tương đương khoảng 1/4 số điều của Luật) và 13 khoản giao Chính phủ quy định chi tiết nhưng Tờ trình của Chính phủ không giải thích lý do. Do vậy, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ cần giải trình rõ lý do cụ thể.

Về nguyên tắc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị nghiên cứu bổ sung việc áp dụng nguyên tắc “giao dịch độc lập” trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết nộp thuế tương xứng với giá trị tạo ra tại Việt Nam. 

Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị cần bố cục, sắp xếp theo từng nhóm đối tượng: cán bộ quản lý thuế, người nộp thuế. Ngoài ra, dự thảo Luật chưa quy định hành vi bị cấm đối với cơ quan, tổ chức liên quan, do đó cần nghiên cứu, bổ sung nội dung này trong dự án Luật.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ trong việc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế về chống chuyển giá, gửi giá, trốn thuế, xử lý nợ đọng, truy thu thuế, cưỡng chế về thuế. 

Về xử phạt vi phạm hành chính, Ủy ban Tài chính, Ngân sách cho rằng, dự án Luật đã bỏ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với cơ quan quản lý thuế (Điều 112) và xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với công chức quản lý thuế (Điều 113) trong Luật hiện hành nhưng lý do bỏ các quy định này không được làm rõ trong Tờ trình.

Trong khi đó, dự thảo Luật vẫn giữ quy định về hành vi vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân có liên quan (Điều 146). Theo cơ quan thẩm tra dự án luật, quy định như vậy là chưa đảm bảo tính thống nhất và công bằng trong xử lý vi phạm về thuế giữa các đối tượng...

Dự kiến, dự án Luật quản lý thuế (sửa đổi) trình Quốc hội khoá XIV xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6 và thông qua tại Kỳ họp thứ 7. 

Minh Khôi